Lịch công tác tháng 9


07/10: “Đón đoàn kiểm tra giám sát của HDND Xã Easar”

08/10: “Họp hội đồng tháng 10”

Lúc 14h00' 15/10: “Họp cụm chuyên môn tại THCS Hùng Vương”

17,18/10: “Thi đấu bóng chuyền Nam, Nữ, Tọa đàm 20/10”

Thông báo mới nhất


"Đội bóng nam, nữ tập luyện từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần”

"Áp dụng PPCT mới bắt đầu từ tuần 8”

"Trao tặng Xe đạp do tập đoàn viettel”

Mời thầy, cô dùng trà

Thông tin

Tài nguyên dạy học

Câu hay

Lịch âm dương

Lời hay ý đẹp

Danh ngôn về thầy

"Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn." Uyliam Batơ Dit.

"Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng, cũng không thể nuôi dạy trẻ với chút ít nhiệt tình." Can Jung.

"Chúng ta không thể dạy bảo cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra những gì còn tiềm ẩn trong họ." Galileo.

"Giáo dục như ánh thái dương phản chiếu cả đến những gian nhà cỏ thấp bé, mái tranh của con nhà nghèo." Pestalogi.

"Sự gương mẫu của người thầy giáo là tia sáng mặt trời thuận lợi nhất đối với sự phát triển tâm hồn non trẻ mà không có gì thay thế được." Usinxki.

Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác. Usinxki.

Đối với người giáo viên, cần phải có kiến thức, có hiểu biết sư phạm về quy luật xã hội, có khả năng dung lời nói để tác động đến tâm hồn học sinh. Có kỹ năng đặc sắc nhìn nhận con người và cảm thấy những rung động tinh tế nhất của trái tim con người. Xukhomlinxki.

Nếu người kỹ sư vui mừng nhìn thấy cây cầu mà mình vừa mới xây xong, người nông dân mỉm cười nhìn đồng lúa mình vừa mới trồng, thì người giáo viên vui sướng khi nhìn thấy học sinh đang trưởng thành, lớn lên. Gôlôbôlin.

Dạy tức là học hai lần." G. Guibe.

Trọng thầy mới được làm thầy. Ngạn ngữ Trung Quốc.

Một gánh sách không bằng một người thầy giỏi. Ngạn ngữ Trung Quốc.

Thầy giáo là đường tinh, học sinh là đường đã lọc. Ngạn ngữ Ba Tư.

Một ông thầy mà không dạy cho học trò được việc ham muốn học tập thì chỉ là đập búa trên sắt nguội mà thôi. Horaceman.

Đem việc làm mà dạy người thì người ta theo; chỉ đem lời nói mà dạy người thì người ta không phục. Đệ Ngũ luận.

Người cha chính là người thầy đầu tiên của đứa trẻ. T. Thore.

Phải tôn kính thầy dạy mình, bởi lẽ nếu cha mẹ cho ta sự sống thì chính các thầy giáo cho ta phương cách sống đàng hoàng tử tế." Philoxêne De Cythêrê.

Nào ai có giỏi hơn con kiến, thế mà nó chẳng cần nói một lời nào. Benjamin Franklin.

Trò sẽ không bao giờ vượt được thầy nếu coi thầy là mẫu mực, chứ không phải là người ta có thể đua tranh. V.Bê-lin-xki (Nga).

Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy." Tục ngữ Việt Nam.

Muốn sang thì bắc cầu kiều,muốn con hay chữ phải yêu kính thầy. Tục ngữ Việt Nam.

Tôi dường như không phải là thầy giáo...và những con đường dẫn đến trái tim tuổi thơ sẽ bị đóng kín đối với tôi nếu tôi chỉ là người đứng trên bục giảng. V.A. Sukhomlinxki.

Chúc mọi người sống đẹp !

Học ca dao Việt Nam

1. Bông Sen thì để lễ chùa, Cụ Hồ thì để tôn thờ trong tâm.

2. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

3. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng, Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.

4. Cụ Hồ ở giữa lòng dân, Tuy xa, xa lắm, nhưng gần, gần ghê. Mỗi khi thư Cụ gửi về, Rộn ràng khắp chợ cùng quê đón mừng. Ai ngoài muôn dặm trùng dương, Cũng thường nhận được tình thương Cụ Hồ.

5. Chỉ đâu mà buộc ngang trời, Tay đâu mà bịt miệng người thế gian.

6. Tháp mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

7. Cười người chớ vội cười lâu, Cười người hôm trước hôm sau người cười.

8. Cá không ăn muối cá ươn, Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

9. Chồng em áo rách em thương, Chồng người áo gấm xông hương mặc người.

10. Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

11. Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang, Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.

12. Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương. Nhớ ai dãi nắng dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

13. Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

14. Bắc thang lên đến cung mây, Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời ? Cuội nghe thấy nói, Cuội cười: Bởi hay nói dối, phải ngồi gốc cây.

15. Cụ già thong thả buông cành trúc, Hồ rộng trời in mặt nước hồng, Muôn vạn đài sen hương thơm ngát, Tuổi già vui thú với non sông.


Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

  • (trinhvandabmt)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điểm báo

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình"

    Vi deo Khai mạc Hội khỏe phù đổng cấp trường 26-03-2013

    Chào mừng 8-3

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Các nhà khoa học - Thiên tài >

    Hồi ức về cố GS.Nguyễn Đình Tứ: Chuyện chưa từng kể

    Câu chuyện giữa tôi và GS. Nguyễn Thu Nhạn kéo dài hơn 4 tiếng đồng hồ. Trong quãng thời gian đó, người phụ nữ bước vào tuổi 80 như chìm vào dòng hồi ức hơn 60 năm về trước. Từ câu chuyện dài bằng cả đời người, tôi cảm nhận được một tình yêu lớn lao, mãnh liệt, sự ngưỡng mộ và tôn kính của bà với người chồng quá cố - GS.Nguyễn Đình Tứ. Lời kể của bà cũng giúp tôi hiểu sâu sắc hơn cả về con người đời thường cũng như cuộc đời tận hiến cho khoa học của một nhà khoa học, nhà giáo, nhà chính trị tài năng, đức độ của nước nhà.

    >Nguyễn Đình Tứ: Một trí thức gương mẫu

    GS.Nguyễn Thu Nhạn bên những cây phong lan - một trong những kỷ vật của cố GS.Nguyễn Đình Tứ. Ảnh: gdtd.vn
    GS.Nguyễn Thu Nhạn bên những cây phong lan - một trong những kỷ vật của cố GS.Nguyễn Đình Tứ. Ảnh: gdtd.vn

    “ Trước khi đi đến tình yêu, anh Tứ và tôi đã là những người bạn thân. Các đoàn lưu học sinh ở nước ngoài, trước khi vào các trường ĐH của bạn đều có 1 năm học ngoại ngữ tập trung. Trong đoàn đi Trung Quốc hơn 200 người, đã tập trung học trung văn 1 năm tại Quế Lâm, anh Tứ và tôi đều được phân vào 1 tổ tâm giao 3 người: Tôi, Anh Tứ và Lê Đậu (học sinh trẻ nhất lớp), để giúp đỡ nhau học tập. Trước đó, trong những ngày chỉnh huấn ở Việt Bắc, tôi và Anh đều được phân cùng 1 tổ, tổ học sinh, sinh viên. Vì thế chúng tôi đã hiểu nhau, mến nhau và thân nhau nhưng cũng chỉ coi nhau như là bạn. Trong năm học ngữ chuyên, chúng tôi cũng chơi thân với nhau nhưng không vượt quá giới hạn bạn bè. Ngày chia tay, anh Tứ và tôi mỗi người đi một ngành, anh về Vũ Hán, tôi đi Quảng Châu.

    Những năm tháng học Y đối với tôi thật vất vả, vừa vì chưa từng qua trường Y, phần vì vốn tiếng Hán không đủ. Tôi phải học ngày, học đêm đến 1-2h sáng nên không có thời gian để nghĩ đến người bạn thân.

    Thế rồi sau 2 năm "biệt tăm", Anh Tứ viết cho tôi 1 bức thư nhờ mua cho Anh chiếc đồng hồ và một bức thư cho các bạn trong tổ. Nhưng tất cả đều trêu tôi vì nhờ mua đồng hồ và thư cho anh em chỉ là cái cớ để liên lạc với tôi! Và cũng từ đó chúng tôi có thư đều cho nhau. Nhưng rồi một hôm anh kêu buồn vì phải đi Liên Xô xa mất bạn bè và phàn nàn tôi viết thư cho Anh phập phù nên đề nghị tôi viết đều cho Anh hàng tháng. Một tháng bằng tầu hỏa thư đi phải vài tuần. Anh đề nghi tôi gửi bằng máy bay. Máy bay 1 tháng một lần Anh cũng kêu lâu quá và đề nghị tôi viết cho Anh mỗi tuần một thư. Tôi kêu vì không biết viết gì, Anh bảo là viết nhật ký, hằng ngày có gì, làm gì, nghĩ gì thì ghi lại rồi gửi cho Anh. Anh cũng làm như vậy. Chúng tôi đã có thói quen ghi nhật ký từ đó.

    GS.Nguyễn Đình Tứ và GS.Nguyễn Thu Nhạn sau ngày cưới. Ảnh do nhân vật cung cấp
    GS.Nguyễn Đình Tứ và GS.Nguyễn Thu Nhạn sau ngày cưới. Ảnh do nhân vật cung cấp

    Chính từ những bức thư tuy không hề nói gì đến tình yêu, không có từ nào âu yếm, đã làm tôi thấy gần gũi Anh, hình như tuần nào không có thư Anh , tôi như thấy thiếu thốn một thứ gì khó tả. Và khi hiểu ra rằng, chúng tôi đã không thể thiếu nhau, khi đó những lá thư của chúng tôi đã được đánh số là 1.000. Và kết thúc học kỳ thứ 5, tôi nhận bằng bác sĩ thì Anh cũng về Bắc Kinh đẻ đón tôi về Hà nội để làm lễ cưới, mà đám cưới chúng tôi ngày đó, (ngày 10.10.1959), chủ yếu là bạn bè của lớp lưu học sinh. 

    Sau ngày cưới, chúng tôi về thăm quê 10 ngày, rồi trở về Hà Nội và có 2 tuần trăng mật trong gian phòng của gia đình Anh Bình cho mượn tại phố thuốc Bắc. Chúng tôi đã có những ngày hạnh phúc bên nhau để rồi sau đó, ngày 1/11/1959, chúng tôi lại lên tàu liên vận Hà Nội – Bắc Kinh để đưa tôi về lại bệnh vện Nhi đồng Bắc Kinh tiếp tục học chuyên khoa Nhi và Anh thì tiếp tục sự nghiệp của mình ở Ddupna cho đến năm 1962 với tôi và năm 1963 với Anh, và cũng từ đây, những bức thư Bắc Kinh-Dupna lại tiếp tục đều đặn hàng tuần. 

    Sau một năm học của tôi, hè năm ấy (1960) Anh quyết định về Bắc Kinh thăm tôi, một tháng hè ấy, anh nghỉ tại nhà khách của Đại sứ quán Bắc Kinh, còn tôi hè thì nghỉ học chuyên môn nhưng lại học chính trị. Ngày ngày tôi vẫn phải về trường để học, còn anh thì loanh quanh trong sứ quán chờ tôi đến tối mới về. Tôi thì rất băn khoăn vì không làm được gì chăm sóc anh, nhưng anh thì vẫn tỏ ra bình thản chịu đựng vì hiểu đó là việc làm cần thiết của 1 công dân Việt Nam khi tổ quốc còn nhiều khó khăn trong chiến tranh mà chúng tôi thì được học tập, an lành ở đây.

    GS.Nguyễn Đình Tứ
    GS.Nguyễn Đình Tứ. Ảnh do nhân vật cung cấp

    Một tháng hè kết thúc, anh lại bay về Mạc Tư Khoa-Đupna để tiếp tục công việc nghiên cứu của mình trong phòng thí nghiệm, còn tôi lại ngày ngày đến với các cháu bệnh nhân, những bức thư tình giờ đây lại tiếp tục qua lại trên bầu trời Bắc Kinh-Mạc Tư Khoa. Công việc hằng ngày của anh và tôi có nhiều hứng thú làm say mê cả 2 người nên rồi 1 năm qua đi không có gì khó khăn. Bấy giờ anh bảo tôi: “ Thôi hè năm nay anh sẽ đón em qua đây với anh, chắc em không từ chối vì có một dịp may đi thăm đất nước Liên Xô” tôi mừng rỡ rồi đi báo cáo với tập thể và sứ quán, họ đều đồng ý cho tôi đi phép 1 tháng sang thăm chồng. Và trong thời gian hạnh phúc ở nước Nga, chúng tôi quyết định sẽ có con. Tôi sinh người con đầu lòng ngày 11 tháng 5 năm 1962 (sau 3 năm chúng tôi kết hôn) và đặt tên cho cháu  là Nguyễn Mạc Hà (tức Mạc Tư Khoa-Hà Nội).

    Hiếu Nguyễn (ghi)

    (Còn tiếp)

    Theo GD&TĐ


    Nhắn tin cho tác giả
    Trịnh Văn Đa @ 19:44 06/04/2013
    Số lượt xem: 299
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Quà tặng cuộc sống

    Dành cho các bé yêu